Thứ Tư, 10 tháng 9, 2014

Công văn Số: 3340/TCT-CS V/v thuế GTGT

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
----------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
------------------------------------
Số: 3340/TCT-CS
V/v thuế GTGT

                             Hà Nội, ngày 18  tháng 8 năm 2014.

Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh.

Tổng cục Thuế nhận được công văn số 629/CT-KTT ngày 25/4/2014 của Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh đề nghị hướng dẫn vướng mắc về thuế GTGT cho giai đoạn trước khi chuyển đổi loại hình thành doanh nghiệp chế xuất. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại điểm 20 Điều 4 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn đối tượng không chịu thuế GTGT: "...Khu phi thuế quan bao gồm: khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, khu bảo thuế, kho ngoại quan, khu kinh tế thương mại đặc biệt, khu thương mại - công nghiệp và các khu vực kinh tế khác được thành lập và được hưởng các ưu đãi về thuế như khu phi thuế quan theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Quan hệ mua bán trao đổi hàng hoá giữa các khu này với bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu".
Tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 14 Thông tư 219/2013/TT-BTC nêu trên quy định về khấu trừ thuế GTGT:
"Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT được khấu trừ toàn bộ, kể cả thuế GTGT đầu vào không được bồi thường của hàng hoá chịu thuế GTGT bị tổn thất"
"Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ (kể cả tài sản cố định) sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT thì chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT".
Về việc xử lý thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết cho giai đoạn trước khi chuyển đổi loại hình thành doanh nghiệp chế xuất, ngày 22/12/2009 Bộ Tài chính đã có công văn số 17924/BTC-TCT gửi Cục Thuế các địa phương hướng dẫn cụ thể.
Theo trình bày của Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh, trường hợp Công ty TNHH SEHYUN VINA mới thành lập đang trong giai đoạn đầu tư, chưa có sản phẩm sản xuất ra, có phát sinh số thuế GTGT đầu vào đã kê khai từ tháng 12/2013 đến tháng 3/2014.Sau đó đến ngày 8/4/2014 Công ty TNHH SEHYUN VINA chuyển sang doanh nghiệp chế xuất (Doanh nghiệp chế xuất không thuộc đối tượng kê khai thuế GTGT).
Căn cứ hướng dẫn trên, Tổng Cục Thuế nhất trí với đề xuất nêu tại công văn số 629/CT-KTT ngày 25/4/2014 của Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh thực hiện theo hướng dẫn tại công văn số 17924/BTC-TCT ngày 22/12/2009 của Bộ Tài chính doanh nghiệp chế xuất khi mua sắm, đầu tư tài sản cố điịnh không có thuế GTGT đầu vào, nên khi công ty TNHH SEHYUN VINA xin chuyển thành doanh nghiệp chế xuất được hoàn thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào đủ điều kiện khấu trừ đến thời điểm chuyển đổi.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh được biết.

Nơi nhận:
-          Như trên
-         Vụ PC – BTC;
-         Vụ PC, KK - TCT;
-         Lưu: VT, CS (2b).
KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG





Cao Anh Tuấn

Thứ Hai, 8 tháng 9, 2014

Công văn Số: 3394/TCT-CS V/v Hướng dẫn về chính sách lệ phí trước bạ

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
----------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
------------------------------------
Số: 3394/TCT-CS
V/v Hướng dẫn về chính sách lệ phí trước bạ
 
                             Hà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 2014.

Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh

Trả lời Công văn số 1117/CT-QLD ngày 23/05/2014 của Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh đề nghị hướng dẫn nộp lệ phí trước bạ đất đối với trường hợp nhận chuyển nhượng đất làm hàng hóa, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
- Căn cứ Thông tư số 124/2011/TT-BTC ngày 31/8/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về lệ phí trước bạ:
+ Tại Điều 2 Chương I, quy định người nộp lệ phí trước bạ:
"Tổ chức, cá nhân (bao gồm cả tổ chức, cá nhân người nước ngoài) có các tài sản thuộc đối tượng chịu lệ phí trước bạ nêu tại Điều 1 Thông tư này, phải nộp lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền..."
+ Tại Điểm c Khoản 3 và Khoản 26, Điều 3, Chương I, quy định các trường hợp không phải nộp lệ phí trước bạ:
"3. Đất nước nhà nước giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng vào các mục đích sau đây:
c) Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyên nhượng hoặc cho thuê, không phân biệt đất trong hay ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất, đầu tư xây dựng nhà để kinh doanh.
Trường hợp này, các tổ chức, cá nhân không phải nộp lệ phí trước bạ khi được nhà nước giao đất, Nếu được sử dụng một phần diện tích đất để chuyển nhượng theo quy định của pháp luật thì tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng phải nộp lệ phí trước bạ, nếu sử dụng một phần diện tích đất để cho thuê hoặc phục vụ cho hoạt động của đơn vị mình thì tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất phải nộp lệ phí trước bạ đối với diện tích đất đó. Khi khai lệ phí trước bạ, tổ chức, cá nhân được giao đất phải xuất trình bản sao Quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
26. Tài sản là hàng hóa kinh doanh của các tổ chức, cá nhân đăng ký hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật mà không đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền."
Căn cứ quy định trên, trường hợp Công ty thương mại đầu tư xây dựng Thành Lợi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hạ tầng của Công ty cổ phần tập đoàn DaBaCo Việt Nam để Công ty kinh doanh chuyển nhượng cho các tổ chức, cá nhân khác thì Công ty không phải nộp lệ phí trước bạ, người nhận chuyển nhượng phải nộp lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản. Trường hợp Công ty thương mại đầu tư xây dựng Thành Lợi không chuyển nhượng cho các tổ chức, cá nhân khác mà Công ty sử dụng để cho thuê hoặc phục vụ hoạt động của đơn vị thì Công ty phải nộp lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh được biết./.

Nơi nhận:
-          Như trên
-          Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn (để báo cáo);
-          Vụ CST, Vụ Pháp chế (BTC);
-          Cục Quản lý công sản;
-          Vụ Pháp chế (TCT);
-          Website Tổng cục Thuế;
-         Lưu: VT, CS(03b).
KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG





Cao Anh Tuấn





Thứ Ba, 26 tháng 8, 2014

Công văn Số: 3255/TCT-DNL V/v: Thuế GTGT đối với số tiền thu được từ việc khai thác tài sản bảo đảm trong thời gian chờ xử lý

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Số: 3255/TCT-DNL
V/v: Thuế GTGT đối với số tiền thu được từ việc khai thác tài sản bảo đảm trong thời gian chờ xử lý.
Hà Nội, ngày 14 tháng 08 năm 2014

Kính gửi:
- Cục Thuế tỉnh Phú Thọ;
- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Chi nhánh tỉnh Phú Thọ;
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 372/NHNo-TD ngày 24 tháng 4 năm 2014 của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Tỉnh Phú Thọ về việc Thuế GTGT đối với số tiền thu được từ việc khai thác tài sản đảm bảo trong thời gian chờ xử lý. Vấn đề này, Tổng cục thuế có ý kiến như sau:
Tại Điều 64 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm quy định:
“1. Trong thời gian chờ xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm được khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm hoặc cho phép bên bảo đảm hoặc ủy quyền cho người thứ ba khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm theo đúng tính năng và công dụng của tài sản. Việc cho phép hoặc ủy quyền khai thác, phương thức khai thác và việc xử lý hoa lợi, lợi tức thu được phải được lập thành văn bản.”
Tại điểm a, mục 8, Điều 4, Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế GTGT và Nghị định 2009/2013/NĐ-CP của Chính phủ, quy định:
“8. Các dịch vụ tài chính, ngân hàng, kinh doanh chứng khoán sau đây:
a) Dịch vụ cấp tín dụng gồm các hình thức:
- Bán tài sản bảo đảm tiền vay do tổ chức tín dụng hoặc do cơ quan thi hành án thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay.
Trường hợp hết thời gian trả nợ, người có tài sản bảo đảm không có khả năng trả nợ và phải bàn giao tài sản cho tổ chức tín dụng để tổ chức tín dụng xử lý tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật thì các bên thực hiện thủ tục bàn giao tài sản bảo đảm theo quy định.
Ví dụ 3: Tháng 3/2014 Công ty TNHH A là cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thế chấp dây chuyền, máy móc thiết bị để vay vốn tại Ngân hàng B, thời gian vay là 1 năm (hạn trả nợ là ngày 31/3/2015). Đến ngày 31/3/2015, Công ty TNHH A không có khả năng trả nợ và phải bàn giao tài sản cho Ngân hàng B thì khi bàn giao tài sản, Công ty TNHH A thực hiện thủ tục bàn giao tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về việc xử lý tài sản bảo đảm. Ngân hàng B bán tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ thì tài sản bán ra thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.”
Theo quy định tại thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 quy định bán tài sản đảm bảo vay (dây chuyền, máy móc thiết bị) để thu hồi nợ thì tài sản bán ra thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
Căn cứ các quy định trên, hoạt động mà Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Phú Thọ thực hiện ủy quyền cho bên thứ 3 là các doanh nghiệp trong nước quản lý, khai thác tài sản đảm bảo trong thời gian chờ phát mại với mục đích thu hồi nợ gốc là hoạt động mới phát sinh chưa được hướng dẫn rõ. Do đó, để kịp thời xử lý vướng mắc đề nghị Cục Thuế tỉnh Phú Thọ hướng dẫn đơn vị. Nếu trong quá trình khai thác tài sản đảm bảo phát sinh doanh thu vượt quá mức thu hồi nợ gốc thì phần vượt của thu hồi nợ gốc phải kê khai, nộp Thuế GTGT theo quy định. Tổng cục Thuế sẽ tổng hợp các trường hợp tương tự báo cáo Bộ hướng dẫn cụ thể.
Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế tỉnh Phú Thọ và Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh tỉnh Phú Thọ biết và thực hiện.


Nơi nhận:
- Như trên;
- Vụ CST, PC, TCNH (BTC);
- Vụ CS, PC (2b), KK (TCT);
- Website Tổng cục Thuế;
- Lưu: VT, DNL (3b).
KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Cao Anh Tuấn

Chủ Nhật, 17 tháng 8, 2014

Công văn Số: 3070/TCT-CS V/v Thuế GTGT.

  BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
     -----------------
    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
                  Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
                    ---------------------------------------
Số: 3070/TCT-CS
V/v Thuế GTGT.
                          Hà Nội, ngày 06 tháng 8 năm 2014.

Kính gửi: Công ty TNHH Thương mại Quốc tế và Dịch vụ Siêu thị Big C Thăng Long (222 Trần Duy Hưng, P. Trung Hoà, Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội.)

Tổng cục Thuế nhận được công văn số 0206/EBT ngày 02/6/2014 của Công ty TNHH Thương mại Quốc tế và Dịch vụ Siêu thị Big C Thăng Long hỏi về thuế suất thuế GTGT đối với hàng hoá nông, lâm, thuỷ sản của Siêu thị bán lẻ cho khách hàng. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Theo quy định tại Khoản 5 Điều 5 và ví dụ 19 Thông tư số 219/2013/TT- BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về các trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT thì:
"5. Doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, hải sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho doanh nghiệp, hợp tác xã ở khâu kinh doanh thương mại không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT. Trên hoá đơn GTGT, ghi dòng giá bán là giá không có thuế GTGT, dòng thuế suất và thuế GTGT không ghi, gạch bỏ.
Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho các đối tượng khác như hộ, cá nhân kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo mức thuế suất 5% hướng dẫn tại khoản 5 Điều 10 Thông tư này.
Ví dụ 19: Công ty lương thực B là cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thu mua gạo của tổ chức, cá nhân trực tiếp trồng bán ra thì ở khâu thu mua của tổ chức, cá nhân trực tiếp trồng bán ra thì gạo thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
Trường hợp Công ty lương thực B bán gạo cho Công ty XNK C thì Công ty lương thực B không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT đối với số gạo bán cho Công ty XNK C.
Công ty lương thực B bán gạo cho Công ty TNHH D (là doanh nghiệp sản xuất bún, bánh phở) thì Công ty lương thực B không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT đối với số gạo bán cho Công ty TNHH D.
Trên hoá đơn GTGT lập, giao cho Công ty XNK C, Công ty TNHH D, Công ty lương thực B ghi rõ giá bán là giá không có thuế GTGT, dòng thuế suất và thuế GTGT không ghi, gạch bỏ.
Công ty lương thực B bán trực tiếp gạo cho người tiêu dùng thì kê khai, nộp thuế GTGT theo mức thuế suất thuế GTGT là 5% theo hướng dẫn tại khoản 5 Điều 10 Thông tư này";
Theo quy định tại Khoản 5 Điều 10 Thông tư số 219/2013/TT-BTC nêu trên thì :
"5. Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, hải sản chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế, bảo quản (hình thức sơ chế, bảo quản theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 4 Thông tư này) ở khâu kinh doanh thương mại, trừ các trường hợp hướng dẫn tại khoản 5 Điều 5 Thông tư này.
Sản phẩm trồng trọt chưa qua chế biến hướng dẫn tại khoản này bao gồm cả thóc, gạo, ngô, khoai, sắn, lúa mỹ được hưởng thuế suất thuế GTGT 5%.
Căn cứ các hướng dẫn trên, trường hợp Công ty TNHH Thương mại Quốc tế và Dịch vụ Siêu thị Big C Thăng Long là tổ chức nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì khi Công ty cung cấp các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, hải sản chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế, bảo quản thông thường cho doanh nghiệp, hợp tác xã ở khâu kinh doanh thương mại thì không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT; trường hợp Công ty cung cấp các hàng hoá trên cho các đối tượng khác như hộ, cá nhân kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì phải thực hiện kê khai, tính nộp thuế GTGT theo mức thuế suất 5% theo quy định.
Tổng cục Thuế trả lời để Công ty TNHH Thương mại Quốc tế và Dịch vụ Siêu thị Big C Thăng Long được biết./.

Nơi nhận:
-Như trên;
-Vụ PC - BTC;
-Vụ PC - TCT;
-Cục Thuế TP.Hà Nội;
-Website TCT;
-Lưu: VT, CS (3b).
KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG

                        Đã ký

Cao Anh Tuấn






Thứ Tư, 6 tháng 8, 2014

Công văn Số: 2795/TCT-CS V/v chính sách thu tiền sử dụng đất và lệ phí trước bạ.

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----------------------
Số: 2795/TCT-CS
V/v
chính sách thu tiền sử dụng đất và lệ phí trước bạ.  
Hà Nội, ngày 23  tháng 07 năm 2014


Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Bình Thuận

Trả lời Công văn số 466/CT-QLTĐ ngày 20/04/2014 của Cục Thuế tỉnh Bình Thuận về việc chính sách thu tiền sử dụng đất và lệ phí trước bạ, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
* Về tiền sử dụng đất:
- Tại Điều 36 Luật Đất đai số 13/2003/QH11 năm 2003 của Quốc hội quy định:
"Điều 36. Chuyển mục đích sử dụng đất
Việc chuyển mục đích sử dụng đất giữa các loại đất quy định tại Điều 13 của Luật này được thực hiện như sau:
1. Trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm:
a) Chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thuỷ sản;
b) Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ sang sử dụng vào mục đích khác;
c) Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp;
d) Chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất;
đ) Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở;
2. Trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này thì người sử dụng đất không phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng phải đăng ký với văn phòng của tổ chức có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất (sau đây gọi chung là văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất) hoặc Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất;
3. Khi chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì chế độ sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử đụng đất được áp dụng theo loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng; thời hạn sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này;
4. Khi chuyển mục đích sử dụng đất trong trường hợp quy định tại các điểm c, d và đ khoản 1 Điều này thì người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định sau đây:
a) Nộp tiền sử dụng đất theo loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng đối với trường hợp chuyển đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất phi nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp có thu tiền sử dụng đất;
b) Nộp tiền sử dụng đất theo loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng trừ đi giá trị quyền sử dụng đất của loại đất trước khi chuyển mục đích sử dụng tính theo giá đất do Nhà nước quy định tại thời điểm được phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với trường hợp chuyển đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối sang đất phi nông nghiệp có thu tiền sử dụng đất;
c) Nộp tiền sử dụng đất theo loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng trừ đi tiền sử dụng đất theo loại đất trước khi chuyển mục đích sử dụng đối với trường hợp chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở; . . ."
Tại Khoản 1, Điều 6 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất quy định thu tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất:
"1. Đối với tổ chức kinh tế:
a) Chuyển từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp được giao không thu tiền sử dụng đất sang giao đất sử dụng ổn định lâu dài có thu tiền sử dụng đất thì thu tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định này;
b) Chuyển từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp được giao không thu tiền sử dụng đất sang giao đất sử dụng có thời hạn thì thu tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định này."
Căn cứ các quy định trên, trường hợp ông Phạm Ngọc Thuật được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 677099 ngày 13/12/2005 với diện tích 100 m2 đất ở đô thị. Ngày 25/09/2007, ông Thuật được cơ quan có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thửa đất ở nêu trên sang đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, sau đó đến ngày 21/02/2011 ông Thuật xin chuyển mục đích sử dụng đất diện tích 100 m2 đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp nêu trên sang đất ở thì ông Thuật không phải nộp tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đối với diện tích đất 100 m2 nêu trên.
* Về lệ phí trước bạ:
- Tại điểm a, khoản 16, Điều 3, Chương 1, Thông tư số 124/2011/TT-BTC ngày 31/08/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về lệ phí trước bạ quy định các trường hợp không phải nộp lệ phí trước bạ như sau:
"16. Tài sản của tổ chức, cá nhân đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng khi đăng ký lại quyền sở hữu, sử dụng không phải nộp lệ phí trước bạ trong những trường hợp sau đây:
a) Tài sản đã được cơ quan có thẩm quyền của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp giấy chứng nhận sở hữu, sử dụng tài sản, nay đổi giấy chứng nhận sở hữu, sử dụng mới mà không thay đổi chủ tài sản (bao gồm cả trường hợp được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng nhưng còn ghi nợ lệ phí trước bạ hoặc nghĩa vụ tài chính).
Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp ông Phạm Ngọc Thuật được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 677099 đối với 100 m2 đất ở, sau đó ông xin chuyển mục đích sử dụng đất sang mục đích sản xuất kinh doanh. Nay đổi giấy chứng nhận sở hữu, sử dụng mới mà không thay đổi chủ tài sản thì không phải nộp lệ phí trước bạ theo quy định tại điểm a, khoản 16, Điều 3, Chương 1, Thông tư số 124/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế được biết./.

 Nơi nhận:
- Như trên;
- Vụ PC-BTC
- Vụ PC-TCT;
- Lưu: VT, CS (3b).
KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG


Đã ký

Cao Anh Tuấn

Thứ Ba, 29 tháng 7, 2014

Công văn Số: 2647/TCT-KK V/v khôi phục mã số thuế.

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----------------------
Số: 2647/TCT-KK
V/v
khôi phục mã số thuế.  
Hà Nội, ngày 14  tháng 07 năm 2014

Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Cao Bằng

Trả lời công văn số 159/CT-KK&KTT ngày 31/3/2014 của Cục Thuế tỉnh Cao Bằng về việc đề nghị khôi phục mã số thuế của Công ty cổ phần thương nghiệp tổng hợp Hòa An (MST: 4800153193) và Hợp tác xã Cộng lực (MST: 4800155874) do Chi cục Thuế huyện Hòa An đóng nhầm, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1.      Về việc khôi phục mã số thuế cho người nộp thuế do cơ quan thuế đóng nhầm:
Căn cứ Khoản 1, Điều 29 Luật quản lý thuế quy định các trường hợp chấm dứt hiệu lực mã số thuế;
Căn cứ Điểm 2, Mục V, Chương II Quy trình quản lý đăng ký thuế ban hành kèm theo Quyết định số 329/QĐ-TCT ngày 27/3/2014 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế hướng dẫn việc khôi phục mã số thuế cho người nộp thuế do cơ quan thuế đóng nhầm;
Tổng cục Thuế đồng ý khôi phục lại mã số thuế của Công ty cổ phần thương nghiệp tổng hợp Hòa An (MST: 4800153193) và Hợp tác xã Cộng lực (MST: 4800155874) trên hệ thống đăng ký thuế của ngành thuế.
2. Về việc tạm ngừng hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần thương nghiệp tổng hợp Hòa An và Hợp tác xã Cộng lực:
a) Trường hợp của Hợp tác xã Cộng lực:
Điểm 8, Mục IV Thông tư số 80/2004/TT-BTC ngày 13/8/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Quyết định số 75/1998/QĐ-TTg ngày 4/4/1998 của Thủ tướng Chính phủ quy định về mã số đối tượng nộp thuế:
8. Tạm ngừng hoạt động:
Các đơn vị, tổ chức kinh doanh tạm ngừng hoạt động phải thông báo bằng văn bản cho quan Thuế trực tiếp quản lý chậm nhất 5 ngày trước khi tạm ngừng hoạt động. Nội dung thông báo phải ghi rõ thời gian bắt đầu và kết thúc tạm ngừmg hoạt động, lý do tạm ngừng hoạt động. "
Điều 25 Nghị định số 87/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005  của Chính phủ về đăng ký kinh doanh hợp tác xã:
"1. Hợp tác xã tạm ngừng hoạt động phải thông báo bằng văn bản cho quan đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho hợp tác xã, quan đã cấp Giấy chúng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, doanh nghiệp trực thuộc hợp tác xã (nếu có) và cho quan thuế, cơ quan thống kê ít nhất 15 ngày (ngày làm việc) trước khi tạm ngừng hoạt động. Nội dung thông báo gồm có.'
...d) Thời hạn tạm ngừng hoạt động, ngày bắt đầu và ngày kết thúc thời hạn tạm ngừng hoạt động. Thời hạn tạm ngừng hoạt động tối đa là 12 tháng; . .. "
Căn cứ vào các quy định nêu trên, qua tài liệu Cục Thuế Cao Bằng gửi kèm công văn số 159/CT-KK&KTT ngày 31/3/2014 về trường hợp của Hợp tác xã Cộng Lực gồm: Đơn Xin tạm đóng mã số thuế ngày 18/6/2005 và Đơn xin phục hồi mã số thuế ngày 20/2/2014, Tổng cục Thuế nhận thấy Hợp tác xã Cộng Lực đã tạm ngừng kinh doanh quá thời gian quy định. Vì vậy, Tổng cục Thuế đề nghị Cục Thuế tỉnh Cao Bằng phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Cao Bằng kiểm tra, xử lý đối với việc tạm ngừng kinh doanh của Hợp tác xã Cộng Lực theo đúng quy định của pháp luật.
b) Trường hợp của Công ty cổ phần thương nghiệp tổng hợp Hòa An:
Tại Điều 57 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp quy định:
"Doanh nghiệp, hộ kinh doanh tạm ngừng kinh doanh phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp, hộ kinh doanh đã đăng ký và cơ quan thuế ít nhất mười lăm ngày trước khi tạm ngùng kinh doanh. Nội dung thông báo gồm:
3. Thời hạn tạm ngừng kinh doanh, ngày bắt đầu và ngày kết thúc thời hạn tạm ngừng. Thời hạn tạm ngừng kinh doanh ghi trong thông báo không được quá một năm. Sau khi hết thời hạn đã thông báo, nếu doanh nghiệp, hộ kinh doanh vẫn tiếp tục tạm ngừng kinh doanh thì phải thông báo tiếp cho quan đăng ký kinh doanh. Tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh liên tiếp không được quá hai năm ... "
Căn cứ vào quy định nêu trên, Thông báo tạm ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh ngày 16/9/2011 của Công ty cổ phần thương nghiệp tổng hợp Hòa An với thời gian tạm ngừng kinh doanh: "Đã tạm dừng từ tháng 10 năm 2010; Kết thức thời gian tạm dừng: Dự kiến hết quý III năm 2013" là không đúng quy định. Mặt khác, qua kiểm tra trên hệ thống đăng ký thuế của cơ quan thuế thì năm 2011, Tổng cục Thuế không nhận được giao dịch đăng ký tạm ngừng kinh doanh của Công ty cổ phần thương nghiệp tổng hợp Hòa An từ cơ quan đăng ký kinh doanh.
Vì vậy, đề nghị Cục Thuế tỉnh Cao Bằng liên hệ với Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Cao Bằng để kiểm tra thực tế Công ty có đến đăng ký tạm ngừng kinh doanh với cơ quan đăng ký kinh doanh không? Căn cứ kết quả kiểm tra, Cục Thuế phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Cao Bằng xử lý đối với các hành vi vi phạm về đăng ký kinh doanh, vi phạm về thuế (nếu có) của Công ty cổ phần thương nghiệp tổng hợp Hòa An theo quy định hiện hành.
3. Từ thực tế nêu trên, Tổng cục Thuế đề nghị Cục Thuế tỉnh Cao Bằng phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Cao Bằng tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn các doanh nghiệp trên địa bàn về trình tự thủ tục hồ sơ liên quan đến đăng ký thuế/đăng ký doanh nghiệp để các doanh nghiệp thực hiện theo đúng quy định.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế tỉnh Cao Bằng biết./.

 Nơi nhận:
- Như trên;
- Cục CNTT (TCT);
- Lưu: VT, KK (2b).
KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG


Đã ký

Trần Văn Phu

Thứ Sáu, 25 tháng 7, 2014

Công văn Số: 2569/TCT-TNCN V/v chính sách thuế TNCN, thuế TNDN đối với khoản phụ cấp, hỗ trợ cho người lao động đi đào tạo tại nước ngoài

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Số: 2569/TCT-TNCN
V/v chính sách thuế TNCN, thuế TNDN đối với khoản phụ cấp, hỗ trợ cho người lao động đi đào tạo tại nước ngoài
Hà Nội, ngày 08  tháng 7  năm 2014


Kính gửi: Công ty TNHH VARD Vũng Tàu
(Địa chỉ: KCN Đồng Xuyên, P.Rạch Giá, Tp. Vũng Tàu)

Trả lời công văn số LO14071 ngày 21/4/2014 của Công ty TNHH VARD Vũng Tàu phản ánh vướng mắc về thuế thu nhập cá nhân (thuế TNCN) và thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế TNDN) liên quan đến chi phí đào tạo cho người lao động tại nước ngoài, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Về chính sách thuế TNCN đối với khoản chi phụ cấp hỗ trợ cho người lao động đi đào tạo ở nước ngoài.
Tại khoản 2, Điều 2, Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn:
"2. ...Thu nhập từ tiền lương, tiền công là thu nhập người lao động nhận được từ người sử dụng lao động, bao gồm:
a) Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công dưới các hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền.
đ) Các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả mà người nộp thuế được hưởng dưới mọi hình thức:
...đ.4) Phần khoán chi văn phòng phẩm, công tác phí, điện thoại, trang phục,... cao hơn mức quy định hiện hành của Nhà nước. Mức khoán chi không tính vào thu nhập chịu thuế đối với một số trường hợp như sau:
đ.4.l) Đối với cán bộ, công chức và người làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp, Đảng, đoàn thể, Hội, Hiệp hội: mức khoán chi áp dụng theo văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính.
đ.4.2) Đối với người lao động làm việc trong các tổ chức kinh doanh, các văn phòng đại diện: mức khoán chi áp dụng phù hợp với mức xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.
đ.4.3) Đối với người lao động làm việc trong các tổ chức quốc tế, các văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài: mức khoán chi thực hiện theo quy định của Tổ chức quốc tế, văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài.
... đ.6) Đối với khoản chi trả hộ tiền đào tạo nâng cao trình độ, tay nghề cho người lao động phù hợp với công việc chuyên môn, nghiệp vụ của người lao động hoặc theo kế hoạch của đơn vị sử dụng lao động thì không tính vào thu nhập của người lao động".
Căn cứ hướng dẫn trên, trường hợp chi phí đi lại, chi phí tiêu vặt của người lao động đi đào tạo tại nước ngoài nếu đủ điều kiện được xác định là công tác phí theo Chính sách và các quy định về đi công tác của công ty thì không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động. Phần chi công tác phí vượt mức quy định tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.
2. Về chính sách thuế TNDN đối với khoản chi phụ cấp hỗ trợ cho người lao động đi đào tạo ở nước ngoài.
Tại khoản 2.8, Điều 6, Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp có hướng dẫn:
"2.8. Chi phụ cấp tàu xe đi nghỉ phép không đúng theo quy định của Bộ Luật Lao động; Phần chi phụ cấp cho người lao động đi công tác trong nước và nước ngoài vượt quá 02 lần mức quy định theo hướng dẫn của Bộ Tài chính đối với cán bộ công chức, viên chức Nhà nước.
Chi phí đi lại và tiền thuê chỗ ở cho người lao động đi công tác nếu có đầy đủ hóa đơn chứng từ hợp pháp theo quy định được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Trường hợp doanh nghiệp có khoán tiền đi lại và tiền ở cho người lao động thì được tính vào chi phí được trừ khoản chi khoán tiền đi lại và tiền ở theo quy định của Bộ Tài chính đối với cán bộ công chức, viên chức Nhà nước.
Trường hợp doanh nghiệp có mua vé máy bay qua website thương mại điện tử cho người lao động đi công tác để phục hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì chứng từ làm căn cứ để tính vào chi phí được trừ là vé máy bay điện tử, thẻ lên máy bay (boarding pass) và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của doanh nghiệp có cá nhân tham gia hành trình vận chuyển. Trường hợp doanh nghiệp không thu hồi được thẻ lên máy bay của người lao động thì chứng từ làm căn cứ để tính vào chi phí được trừ là vé máy bay điện tử, giấy điều động đi công tác và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của doanh nghiệp có cá nhân tham gia hành trình vận chuyển".
Căn cứ hướng dẫn trên, trường hợp công ty TNHH VARD Vũng Tàu trong năm 2014 có thực hiện chi các khoản tiền tiêu vặt, chi phí đi lại (theo mức khoán) cho các nhân viên của đơn vị đi đào tạo ở nước ngoài phù hợp với hướng dẫn nêu trên thì được tính vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN năm 2014.
Tổng cục Thuế trả lời Công ty TNHH VARD được biết và thực hiện./.

 Nơi nhận:
- Như trên;
- Cục thuế tỉnh BR-VT;
- Vụ PC, CS;
- Website TCT;
- Lưu: VT, TNCN.
KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG



Cao Anh Tuấn